cu lao dai

Những dải cù lao giữa dòng Cổ Chiên

Sông Cổ Chiên là một nhánh lớn tách ra từ sông Tiền. Từ trên cao nhìn xuống, nó như một người mẹ dang rộng vòng tay ôm trọn lấy những dải đất cù lao, mang theo mầm sống của những vùng đất mới. Đứng bên bờ sông nhìn ra, mặt sông trải rộng một màu nước đục ngà vàng, đặc quánh phù sa. Những đám lục bình lênh đênh trôi dạt theo con nước lớn ròng, thỉnh thoảng dạt vào mạn những chiếc ghe chở đầy trái cây miệt vườn.

Tên gọi “Cổ Chiên” mang trong nó những lớp bụi thời gian và điển tích lịch sử. Tương truyền, vào mùa xuân năm 1785, sau thất bại tại Rạch Gầm, Xoài Mút, quân lính Nguyễn Ánh tháo chạy xuống phía Nam. Trong cơn binh biến trên dòng sông này, vô số trống (cổ) và chiêng đã rơi xuống lòng sâu. Tiếng khí cụ va vào nhau dưới đáy nước hay âm vang của một thời loạn lạc đã hóa thành tên gọi cho dòng sông mẹ. Trải qua hàng thế kỷ bồi lấp, những bãi bồi hoang dã xưa kia giờ đã hóa thành “trái châu của sông Cửu Long”, nơi phù sa không chỉ đắp bồi đất đai mà còn nhào nặn nên tính cách con người nơi đây: thong thả, chân tình và đầy bao dung.

Ghé thăm Cù lao An Bình, viên ngọc xanh rộng 60km² nằm đầu dòng Cổ Chiên, ta mới thấy hết cái sự khôn khéo của lưu dân trong cuộc mưu sinh. Xưa kia, đất này vốn là ruộng lúa thấp trũng, mỗi năm chỉ làm được một vụ lúa, cảnh nghèo khó bám riết lấy những mái nhà tranh. Để thoát nghèo, cha ông đã sáng tạo nên kỹ thuật “đào mương lên líp”. Người dân đào những con mương sâu, lợi dụng thủy triều đưa nước phù sa vào lắng đọng. Hễ nước ròng, họ dùng gàu văng lớp bùn non ấy lên líp để bồi gốc cây. Kỹ thuật này giúp nhà vườn ít khi dùng phân bón mà cây trái vẫn tốt tươi. Độc đáo hơn, tại các miệng cống bao quanh vườn, người ta lắp đặt “nắp quạt” – loại nắp đậy tự động đóng lại khi nước lớn để ngăn ngập và tự mở ra khi nước ròng để thoát nước.

Chính nếp sống thuận thiên ấy đã đưa vùng cù lao An Bình từ ruộng lúa hóa thành vương quốc nhãn long, chôm chôm, sầu riêng. Đến đây, người ta sẽ được kể cho nghe chuyện ông Năm Gỗ, khi đê bao bị vỡ khiến vườn chôm chôm ngập lụt, rụng lá rồi lại trổ hoa nghịch mùa. Từ cái khó ấy, người dân đã học cách điều khiển cây ra trái theo ý muốn, mang lại giá trị kinh tế cao hơn gấp nhiều lần. Trên mặt sông, những làng bè nuôi cá diêu hồng, cá bông lau nhấp nhô, dập dềnh trên những chiếc thùng phi, tạo thành một phố thị nổi trên sông sinh động vô cùng.

cu lao an binh

Xuôi về phía hạ lưu, Cù lao Long Trị (con gọi là Cồn Bàng) đón ta bằng một nhịp đời “hạ bạc” kiên cường giữa hai dòng mặn – ngọt. Với hai mùa con nước 6 tháng nước ngọt, 6 tháng nước mặn, người Long Trị không chọn cách chống lại thiên nhiên mà chọn cách sống hòa hợp. Cây dừa ta chiếm tám phần mười diện tích, loài cây chịu mặn, chịu gió quanh năm đứng sừng sững hiên ngang như giữ đất cho dải phù sa. Dưới bóng dừa xanh, những con đường làng xanh – sạch – đẹp hiện ra ngoằn ngoèo, không một cọng rác, chỉ có hàng hoa mười giờ nở đỏ dưới nắng trưa.

Cuộc sống của cư dân Long Trị gắn liền với sông nước. Ở đuôi cồn, bến tàu cá hoạt động nhộn nhịp với những chiếc ghe biển neo đậu sau chuyến đi dài từ Côn Đảo, Hòn Khoai. Dưới những hiên nhà, ta bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ thoăn thoắt đôi tay vá lưới. Những chiếc “lưới ba” với mắt lưới ba phân chuyên dùng bắt cá út, cá két được chăm chút tỉ mỉ. Khi lưới cũ, bà con thực hiện công đoạn “đạp thịt”, tức là gỡ bỏ lớp lưới cũ để vô lưới mới, một công việc đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo. Người dân Long Trị canh nước để nhử tôm càng xanh, bắt cá út bạc bụng về nấu canh chua bần, sống bình thản, tự tại giữa dòng đời biến động.

Đọc thêm: Cổ Chiên – Nơi phù sa nuôi lớn một vùng văn hoá

Xuôi theo dòng Cổ Chiên một đoạn nữa là tới Cù lao Dài, dải đất hình chiếc giày dài hai mươi cây số nằm giữa ba tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh. Đây là vùng đất của những nếp nhà hiếu nghĩa, nơi lưu giữ khu lăng mộ của thân nhân danh tướng Thoại Ngọc Hầu. Đền thờ họ Nguyễn và họ Châu đứng trang nghiêm, kể về tấm lòng hiếu thảo của bà Châu Thị Vĩnh Tế và những bậc tiền nhân thuở đầu mở đất, lập nên năm ngôi làng làm gương cho cả vùng.

Cù lao Dài còn nổi tiếng với cách làm vườn khéo léo của bà con. Trên cao là tán xoài cát núm, bưởi da xanh trĩu quả; tầng dưới tận dụng bóng râm để trồng cau kiểng bán lá. Nhờ đất phù sa mà hai tầng cây trái xanh rì tươi tốt. Nhưng có lẽ, điều khiến người ta nhớ nhất là tiếng máy xe lõi lát vang lên đều đặn trong các xóm nghề. Mùi thơm của lát khô dưới nắng và tiếng lách cách của khung dệt như một bản nhạc truyền đời. Những chiếc máy xe lõi lát cũ kỹ được cha mẹ để lại cho con cái, coi như chút vốn liếng để mưu sinh. Đặc biệt hơn cả là tục “mần dần công”, ở đây hàng xóm giúp nhau thu hoạch lát, dệt chiếu không lấy tiền công, chỉ lấy cái tình, cái nghĩa bù đắp cho nhau. Nhờ vậy mà xóm làng gắn bó bền chặt theo năm tháng.

Khi ánh hoàng hôn dát vàng lên sóng nước Cổ Chiên, tiếng mái chèo khua nhẹ trong mương vườn như lời thì thầm của đất. Trải qua bao dâu bể, những dải cù lao vẫn đứng vững giữa dòng sông mẹ, bền bỉ và kiêu hãnh. Con người và dòng sông đã hòa làm một: sông mải miết dâng phù sa cho đất, còn người chắt chiu phù sa ấy để nuôi dưỡng những vườn cây, những làng nghề và cả những đức tính thuần hậu, hiếu nghĩa không bao giờ nhạt phai. Dư âm của dòng Cổ Chiên sẽ còn mãi, xanh ngắt như màu lá dừa và ngọt lịm như vị xoài cát giữa lòng miền Tây Nam Bộ.

Mình là Huỳnh Trang, mình đang trên hành trình học và thực hành để trở thành người chấp bút và biên tập sách. Hiện tại Trang cũng là thành viên của team Án Thư và cũng đang đảm nhận một dự án chấp bút sách thực tế.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang