song co chien 1

Cổ Chiên – Nơi phù sa nuôi lớn một vùng văn hoá

Dòng sông vẫn chảy giữa đôi bờ ký ức

Ở miền Tây, người ta quen nhìn đời bằng con nước. Nước lớn, nước ròng, nước đục, nước trong, chuyện làm ăn, chuyện mùa màng, nhiều khi cũng theo đó mà xoay vần. Trong những dòng nước ấy, Cổ Chiên là một con sông lớn, lặng lẽ chảy qua bao nhiêu đời người.

Buổi sớm, đứng trên bến sông nhìn ra xa, thấy mặt nước mênh mang dập dìu như tấm lụa. Ghe chở dừa từ Bến Tre chạy ngược lên, ghe chở gạch từ Mang Thít xuôi xuống. Tiếng máy nổ xen lẫn tiếng sóng vỗ bờ. Những cảnh ấy ở Cổ Chiên đã có từ lâu lắm, lâu đến nỗi người ta ít khi để ý rằng con sông này đã chứng kiến biết bao đổi thay của vùng đất.

Có lẽ trước khi có làng xóm, trước khi có những vườn dừa xanh rợp đôi bờ, dòng nước này đã chảy qua đây rồi. Nó chở phù sa từ tận thượng nguồn Mekong về, lặng lẽ đắp bồi từng doi đất, từng cù lao. Nhờ vậy mà sau này, khi lưu dân phương xa tìm đến, họ mới có đất để cắm sào dựng nhà.

Dòng Cổ Chiên vì vậy không chỉ là một con sông. Nó giống như một người già ít nói, đứng bên bờ thời gian mà nhìn hết chuyện đời.

Thuở ban sơ của vùng đất

Cổ Chiên vốn là một nhánh của sông Tiền. Từ đoạn đất Vĩnh Long, dòng nước tách ra rồi xuôi dài chừng tám mươi cây số, len qua Bến Tre, Trà Vinh trước khi đổ ra biển Đông.

Con sông này chịu ảnh hưởng thủy triều rất rõ. Một ngày nước lên hai lần, rồi rút hai lần. Người miền Tây gọi đó là con nước “bán nhật triều”. Ai quen sông nước đều biết nhìn con nước mà tính chuyện làm ăn: lúc nào thả lưới, lúc nào chở hàng, lúc nào băng qua sông cho đỡ tốn sức.

Theo năm tháng, phù sa theo dòng nước mà bồi lên những cù lao. Cù lao Dài, cù lao Thủ, rồi nhiều doi đất nhỏ khác nổi lên giữa sông như những vạt đất xanh. Nhìn vậy thôi chứ những mảnh đất ấy quý lắm. Đất mềm, màu mỡ, trồng cây gì cũng tươi tốt.

Có người từng nói: ở miền Tây, trước khi có con người thì đã có dòng sông. Chính dòng sông đã nắn lại hình hài cho cả vùng đất này.

Dòng sông của những người đi mở đất

Khoảng vài trăm năm trước, những đoàn lưu dân từ miền Trung bắt đầu xuôi ghe vào Nam. Họ đi theo các con sông lớn, vì chỉ có đường nước mới đưa họ vào sâu trong vùng đất mới.

Cổ Chiên khi ấy chắc hẳn đã thấy không ít chiếc ghe bầu chở theo cả một gia đình: vài cái nồi, mấy tấm chiếu, ít giống lúa, ít cây trái đem theo từ quê cũ. Người ta chèo ghe, đi mãi cho tới khi gặp một cù lao có cây cối xanh tươi, đất bằng phẳng, nước ngọt quanh năm thì dừng lại.

Một trong những nơi như vậy là Cù lao Dài. Dải đất này nằm giữa dòng sông, dài hơn hai chục cây số. Sau này nhiều xóm làng hình thành ở đây, ruộng vườn mở ra, cây trái mọc lên xanh tốt.

Danh thần Thoại Ngọc Hầu cũng từng gắn bó với vùng đất này. Gia đình ông xuôi Nam từ thuở loạn lạc, rồi dừng chân ở Cù lao Dài. Những dấu tích như khu mộ thân nhân của ông vẫn còn đó, như nhắc lại một thời người ta vào Nam mở đất bằng đôi tay và ý chí.

Từ những xóm nhỏ ven sông, dần dần hình thành nên “Năm Thôn”: Phú Thái, Phước Khánh, Thái Bình, Thanh Lương, Bình Thạnh. Sử cũ chép rằng nơi này ruộng vườn ngay ngắn, đất đai thanh tú, người dân sống yên ổn. Tất cả những chuyện ấy, dòng Cổ Chiên đều đã nhìn thấy.

song co chien 3

Những năm tháng binh lửa

Có những thời kỳ, dòng sông không còn yên ả như buổi sớm có ghe dừa qua lại. Lịch sử từng đi ngang qua nơi này bằng những trận binh đao.

Tên gọi “Cổ Chiên” theo lời truyền miệng của người xưa có liên quan đến tiếng chiêng trống. Họ kể rằng sau trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm 1785, quân Xiêm thua chạy, chiêng trống đánh vang cả một khúc sông. Từ đó dân gian gọi nơi này là Cổ Chiên.

Còn trong sách xưa của Lê Quý Đôn lại chép một cái tên khác: Cổ Chân. Có lẽ theo thời gian, âm đọc đổi đi một chút rồi thành ra Cổ Chiên như bây giờ.

Ngày trước, vùng Vĩnh Long cũng là nơi quan trọng về quân sự. Thành Long Hồ được xây dựng dựa vào thế sông. Bốn phía đều có sông rạch bao bọc. Những khẩu thần công từng đặt ở các vàm sông để giữ đất.

Bây giờ nhiều nơi đã đổi thay, nhưng những cái tên như Xóm Lò Rèn, Cầu Lầu vẫn còn đó. Mỗi địa danh là một mảnh ký ức của vùng đất từng trải qua binh lửa.

Phù sa và những làng nghề

Sau những biến động lịch sử, dòng sông lại trở về với công việc quen thuộc của mình: chở phù sa. Phù sa ấy đã nuôi lớn không ít làng nghề ven sông.

Ở Mang Thít, dọc bờ Cổ Chiên có hàng ngàn lò gạch đỏ. Từ xa nhìn lại, những lò gạch cao như những tòa tháp nhỏ. Người ta gọi nơi này là “vương quốc gạch đỏ”. Đất sét từ lòng sông, qua bàn tay thợ và ngọn lửa trong lò, biến thành gạch, ngói, gốm… rồi theo ghe thuyền đi khắp nơi.

Xuôi xuống phía Bến Tre là vùng Chợ Lách, Cái Mơn. Nơi này nổi tiếng với vườn cây và hoa kiểng. Nhờ nước ngọt quanh năm và lớp đất phù sa dày, cây giống ở đây xanh tốt lạ thường. Mỗi dịp tết đến, ghe chở hoa từ Chợ Lách lại theo sông mà đi khắp miền Nam.

Còn vùng dừa Bến Tre ven Cổ Chiên thì từ lâu đã gắn với nghề làm kẹo dừa. Nước cốt dừa, đường, chút lá dứa hay sầu riêng… qua tay người thợ mà thành món kẹo ngọt thơm, mang theo hương vị của vùng sông nước.

gom mang thit co chien

Dòng sông và đời sống văn hóa

Ven bờ Cổ Chiên không chỉ có ruộng vườn mà còn có những nơi gửi gắm đời sống tinh thần.

Ở Vĩnh Long có Văn Thánh Miếu – nơi thờ Khổng Tử và những bậc hiền triết. Người ta từng gọi đây là “đất học phương Nam”. Nhiều sĩ phu từng tụ họp ở đây bàn chuyện sách vở, chuyện nước non.

Xuôi xuống Trà Vinh, dòng sông lại đi ngang qua vùng sinh sống của đồng bào Khmer. Những ngôi chùa mái cong, những lễ hội như Ok Om Bok, tiếng nhạc ngũ âm rộn ràng trong đêm trăng… tất cả tạo nên một màu sắc văn hóa riêng của vùng hạ lưu Mekong.

Ba cộng đồng Kinh – Hoa – Khmer sống bên dòng sông này từ lâu đời. Nhờ vậy mà văn hóa nơi đây vừa quen thuộc, vừa đa dạng.

Dòng sông của hôm nay

Người miền Tây bây giờ đi lại dễ dàng hơn trước nhiều.

Hồi xưa muốn qua Cổ Chiên phải chờ phà. Mỗi lần phà cập bến, xe cộ chen nhau, người gánh hàng, người dắt xe đạp, kẻ ôm gà vịt. Phà rời bến, sóng đánh dập dềnh, ai đứng trên boong cũng phải vịn lan can cho chắc.

Nay thì đã khác. Cầu Cổ Chiên bắc qua sông, xe chạy vù một cái là qua bờ bên kia. Nhiều người đi qua cầu vẫn còn thói quen ngoái nhìn xuống dòng nước phía dưới, như tìm lại bóng dáng những chuyến phà năm nào.

Dưới sông, ghe tàu vẫn còn qua lại tấp nập. Ghe chở gạch từ Mang Thít, ghe chở dừa từ Bến Tre, ghe chở trái cây từ miệt vườn. Có chiếc chạy chậm rãi theo con nước, có chiếc nổ máy giòn giã, kéo theo một vệt sóng dài phía sau. Sông vẫn là con đường quen thuộc của miền Tây, chỉ có cách người ta đi lại là đổi khác theo thời gian.

Lời của dòng sông

Trăm năm qua, dòng Cổ Chiên vẫn vậy, lặng lẽ chảy từ thượng nguồn về biển Đông. Bao nhiêu lớp người đã đến rồi đi, bao nhiêu xóm làng đã mọc lên dọc theo đôi bờ, nhưng con nước vẫn theo nhịp cũ: nước lớn rồi nước ròng, mùa mưa rồi mùa nắng. Có lẽ dòng sông đã thấy nhiều hơn những gì người ta còn nhớ. Nó đã thấy những chiếc ghe bầu chở lưu dân đi tìm đất mới, thấy những mùa gạch đỏ rực lửa ở Mang Thít, thấy những vườn dừa, vườn hoa xanh rợp bóng đôi bờ. Bây giờ đứng trên cầu nhìn xuống, nước vẫn lững lờ trôi, đục màu phù sa như thuở nào. Và đâu đó trong tiếng sóng vỗ bờ, người ta vẫn có cảm giác dòng sông đang kể lại câu chuyện cũ của vùng đất này, câu chuyện về những con người đã bám lấy phù sa mà sống, mà dựng nên xóm làng, rồi lặng lẽ gửi lại đời mình trong dòng nước.

Mình là Huỳnh Trang, mình đang trên hành trình học và thực hành để trở thành người chấp bút và biên tập sách. Trang hiện là thành viên của team Án Thư và cũng đang tham gia một dự án chấp bút thực tế.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang